Tử cung là cơ quan của phụ nữ chịu nhiều thay đổi nhất trong cuộc đời. Từ tuổi dậy thì cho đến lúc mãn
kinh, tử cung bi tróc màng nhầy ra trong chu kỳ kinh nguyệt. Bình thường cố kích thước bằng một nắm tai của phụ
nữ, tử cung lớn lên đáng kể khi mang thai. Ngoài các biến chứng do việc sinh đẻ, những bệnh tử cung gồm u xơ tử cung (yribrome), sa tử cung, lạc nội mạc tử cung,
polyp và ung thư. Phần lớn các triệu chứng của những bệnh này đều có thể được giảm nhẹ qua việc điều trị bằng thuốc
hay bằng phẫu thuật.
Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015
Các bệnh thuộc về cơ quan sinh dục nữ
Các cơ quan sinh sản nữ gồm các buồng trứng, các ông
dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung, âm đạo và âm hộ. Do chức năng chính kết hợp của
các cơ quan này là sự sinh sản, các bệnh ảnh hưởng đến chúng có thể dẫn đến vô
sinh và cần được điều trị càng sớm cảng tốt, đặc biệt nếu bạn muôn có con. Các
bệnh như thế có thể là do nhiễm trùng, tổn thương cơ thể, hoặc mít cân bằng
hormone.
Những can thiệp phẫu thuật khối u ở vú
Nhiều can thiệp phẫu thuật khác nhau cho phép tách bỏ
các khối u để điều trị ung thư vú. Việc chọn lựa phương pháp phụ thuộc vào kích
thuớc và bản chất của khôi u. Phẫu thuật tạo hình vú là một phẫu thuật vì mục
đích thẩm mỹ để làm tăng hay giảm kích thước của vú.
Thủ thuật cắt khối u
Gồm việc cắt bỏ chỗ u và một phần mô xung quanh, nếu ung thư không quá rộng thì phẫu thuật này cũng tạo ra các cơ hội sống sót như một phẫu thuật lớn hơn.
Vú hơi bị trùng
Vết rạch: Một vết rạch nhỏ được thực hiện ở ngang khối u. Khối u và mô bao quanh cũng như các hạch bạch huyết ở gần chỗ tổn thương được lấy đi.
Kết quả: Việc can thiệp phẫu thuật này chỉ để lại một sẹo nhỏ; người bệnh sau đó đôi khi được điều trị tiếp tục bằng xạ trị và điều trị bằng thuốc.
Thủ thuật cắt bỏ 1 phần vú
Gồm việc lấy đi một phần vụ. Trong một số trường hợp, người ta lấy khôi u và một đoạn mô xung quanh (phẫu thuật phân đoạn); trong một số trường hợp khác, Vá vú được cắt bỏ. Nói chung, các hạch bạch huyết ở vùng nách cũng được cắt bỏ trũng xuống.
Vết rạch: Mô vú tổn thương cũng như phần da bao quanh được lấy đi; các hạch bạch huyết tương ứng ở nách cũng được lấy đi.
Thủ thuật cắt vú dưới da
Một phần lớn hay toàn bộ mô vú được lấy đi; núm vú
và da ngực được giữ lại. Một số hạch bạch huyết ở nách được lấy ra để xem xét
dưới kính hiển vi. Phẫu thuật cắt vú được thực hiện để điều trị ung thư và đôi
khi là để ngăn ngừa bệnh ở các phụ nữ có nguy cơ.
vết rạch: Nói chung, vết rạch được thực hiện dưới da và mô được lấy đi. Khi cả da và núm vú cũng được lấy đi thì gọi là phẫu thuật cắt vú đơn giản.
Vú giả : Đổ thay thế mô đã lấy đi và trả lại cho vú
một dạng binh thưởng, đôi khi người ta đặt một vật giả ở dưới da. Vết rạch đã đóng lại
Thủ thuật cắt vú tận gốc cải tiến
Gồm việc cắt bỏ toàn bộ vú và các hạch bạch huyết ở nách. Vú có thể dược tái tạo ngay sau phẫu thuật hay một thời gian sau đó. Phẫu thuật cắt vú tận gốc loại bỏ cả những cơ ngực ít khi được thực hiện vì phẫu thuật này có thể được xem như một phẫu thuật cắt bỏ cơ quan.
Vết rạch: Mốt đường rạch dài hình êlip bao quanh vú và các hạch bạch huyết ở nách được thưc hiên
Vết rạch: phẵu thuật đề lại một vết sẹo dài
Tái tạo vú: Để tái tạo vú, người ta tảch da (và lớp mỡ dưới da) ô gần vú hay ở bụng. Núm vú được tối tạo và một vật gìà có thể được đưa vào dưới da
Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015
Việc cần làm khi nam tính hóa
Bác sĩ sẽ khám bạn và có thể làm các xét nghiệm để
xác định nguyên nhân của các triệu chứng. Các xét nghiệm này bao gồm thử máu để
đo các mức hormone, chụp MRI hay quét CT để tìm một u tuyến thượng thận, và quệt
siêu âm để kiểm tra các buồng trứng. Sự điều trị nguyên nhân, như cắt bỏ một u,
sẽ làm đảo ngược một số thay đổi. Nếu không có nguyên nhân nào được tìm
thấy, các thuốic uống ngừạ thai có thể được cho để ngăn chặn sự sản xuất
hormone của các buồng trứng và làm giảm các mức hormone giới tính nam. Bạn có
thể được tư vấn về cách xử lý lông quá dầy, có lẽ bằng cách dùng điện phân hay
bôi sáp.
Triệu chứng nam tính hóa
Các triệu chứng xuất hiện dần dần khi các mức
hormone giới tính nam gia táng. Chúng bao gồm:
❖ Sự phát triển quá mức của lông trên mặt và
cơ thể.
❖ Kinh nguyệt trở nên không đều hay không thấy.
❖ Sự giảm kích thước vú hay trong các trường
hợp hiếm, sự suy năng vú phát triển.
❖ Sự lớn của âm vệt.
❖ Sự lớn vĩnh viễn của thanh quản, làm cho giọng
trở nên trầm hơn.
❖ Sự thưa của tóc quanh thái dương và đỉnh đầu.
Sự mất cân bằng hormone có thể dẫn đến sự phát triển
cơ gia táng, tạo ra một vóc dáng đàn ông.
Nguyên nhân nam tính hóa
Khi chứng nam tính hóa phát triển sau này, các khả
năng gây bệnh bao gồm những bất thường của buồng trứng, như một số loại u
nang buồng trứng, ung thư buồng trứng, và hội chứng đa u nang buồng trứng. Các
mức hormone cũng có thể gia táng bởi các u tuyến thượng thận và sự sử dụng một
số chất bổ sung hormone nam của các vận động viên.
Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015
Sự nam tính hóa ở tuổi trưởng thành
Bình thường, các mức thếp của hormone giới tính nam
có mặt ở người nữ và được sản xuất bởi các tuyến thượng thận và các buồng trứng.
Tuy nhiên, nếu sự sản xuất các hormone này gia táng đáng kể, một số đặc
tính nam bắt đầu phát triển, một bệnh gọi là nam tính hóa.
Sự nam tính hóa xảy ra phổ biến nhất ở tuổi trưởng
thành, gây ra các triệu chứng trầm giọng, sự mọc lông quá mức trên mặt và cơ thể
gọi là chứng rậm lông, và sự thưa tóc trên thái dương và đỉnh dầu. Các triệu chứng
này thường gây trầm cảm về tâm lý. Trong trường hợp hiếm, bệnh xuất hiện lúc mới
sinh. Nếu xuất hiện lúc mới sinh, nam tính hóa thường do một bệnh di truyền gây các mức hormone bất thường.
Việc cần làm khi dậy thì sớm
Bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra để xác định xem dậy thì
đã bắt đầu hay chưa đã phát triển bao xa. Một mẩu máu có thể được lấy để đo các
mức hormone hay tìm một rối loạn nhiễm sắc thể. Bác sĩ cũng có thể cho bạn chụp
MRI hay quét CT não để tìm u tuyến yên, hay quét siêu âm các buồng trứng để tìm
các u nang.
Nếu có một bệnh chính, nó sẽ được điều trị. Ví dụ, một
u nang buồng trứng sẽ được cắt bỏ bằng phẫu thuật. Sự điều trị bằng hormone có
thể được chỉ định để dinh chỉ dậy thì sớm hay để kích thích sự phát triển giới
tính nếu dậy thì muộn. Trong một số trường hợp, dậy thì muộn có liên quan đến
chứng vô sinh, và sự đánh giá và điều trị xa hơn có thể cần trong tương lai nếu
một phụ nữ dậy thì muộn muốn có con.
Đôi khi dậy thì chỉ đơn thuần là trễ và sự điều trị
là không cần thiết. Lấy lại cân nặng và giảm hoạt động gắng sức có thể có ích nếu
dậy thì muộn là do sút cân hay thể dục quá sức.
Nguyên nhân chứng dậy thì sớm
Dậy thì ở các bé gái được kiểm soát bởi các hormone
giới tính do các buồng trứng sản xuất ra. Sự sản xuất các hormone này được kiểm
soát bởi các hormone từ tuyến yên trong não và từ vùng dưới đồi (phần não mà điều
tiết tuyên yên). Các bệnh của bất kỳ cơ quan nào thuộc số này đều có thể
dẫn đến dậy thì bất thường sớm hoặc muộn.
Dậy thì sớm có thể là do một bệnh mà gây một sự gia
táng sớm các hormone giới tính. Ví dụ, một u nang buồng trứng phát triển trong
thời thơ ấu có thể sản xuất các hormone giới tính, gây phát triển giới tính sớm.
Một u vùng dưới đồi hay tổn thương tuyến yên do bị thương ở đầu, hay một bệnh
nhiễm trùng như viêm màng não cũng có thể gây dậy thì sớm.
Dậy thì muộn có thể là do một số rối loạn nhiễm
sắc thể, như hội chứng Turner, hay ít gặp hơn, do một u tuyến yên. Sụt cân hay
thể dục quá sớm có thể tạo ra sự mất cân bằng hormone tạm thời, có thể gây dậy
thì muộn.
Trong nhiều trường hợp dậy thì bất thường không có
nguyên nhân chính nào được tìm thấy.
Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015
Triệu chứng giảm năng tuyến sinh dục nữ giới
Các triệu chứng phụ thuộc vào tuổi tác lúc bệnh phát
triển và lượng hormone giới tính được sản xuất. Nếu bệnh xảy ra 38 trước tuổi dậy thì, giảm năng tuyến sinh dục gây dậy
thì bất thường ở nữ. Nếu bệnh xảy ra sau tuổi dậy thì, các triệu chứng có thể gồm:
❖ Kinh nguyệt giảm hay không thấy.
❖ Giảm khả năng sinh sản.
❖ Nóng bừng, đổ mồ hôi nhiều, và lo âu, cộng
với các triệu chứng khác liên quan đến mãn kinh.
❖Trong trường hợp hiếm, lông hạ bộ có thể
thu hẹp và vú có thể nhỏ hơn.
Cũng có thể có các triệu chứng khác, tùy thuộc vào
nguyên nhân chính
Chứng dậy thì bất thường ở nữ
Dậy thi là một giai đoạn trong đó sự phát triển giới
tính xảy ra. Ớ các bé gái, dậy thì được nhận biết bởi sự lớn vọt, sự phát triển
lông ở nách và vùng mu, sự phát triển vú và cơ quan sinh sản, và kinh nguyệt. Mặc
dù có một số sai biệt về tuổi dậy thì, các bé gái có khuynh hướng bắt đầu quá
trình này từ 10 dến 14 tuổi. Dậy thì có thể được coi là bất thường nếu nó bắt đầu
sớm hơn bình thường (sớm) hay trễ hơn (muộn). Dậy thì sớm xảy ra nếu một bé gái
phát triển vú trước 8 tuổi hay nếu kinh nguyệt bắt đầu trước 10 tuổi. Trong những
trường hợp cá biệt, dậy thì có thể bắt đầu lúc 16 tuổi hay sự phát triển cỏa vú
không xảy ra ở tuổi 14.
Dậy thì sớm thường hiếm gặp và có thể do một rối loạn
hormone. Dậy thì muộn phổ biến hơn. Mặc dù có thể có một nguyên nhân chính của
dậy thì muộn, nhiều bé gái mà không thấy kinh vào tuổi 16 đơn giản là những bá
chậm phát triển, một khuynh hướng thường di truyền.
Dậy thì bất thường có thể rắc rối cho một bé gái và
gia đình bởi vì sự phát triển cơ thể và giới tính của cô sẽ không trùng khớp với
các cô bé đồng trang lứa. cần tìm kiếm sự tư vân y tế ngay sau khi nghi ngờ dậy
thì bất thường.
Việc cần làm khi giảm tuyến sinh dục
Bác sĩ có thể cho bạn làm các xét nghiệm máu để đo
các mức hormone của bạn. Bạn cũng có thể được quét CT não để tìm một rôì loạn
tuyến yên hay quét siêu âm các buồng trứng.
Sự điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân. Ví dụ, một u
tuyến yên có thể được cắt bỏ bằng phẫu thuật. Nếu bệnh là do sút cân, việc lấy
lại trọng lượng có thể có ích. Trong một scT trường hợp, sự điều trị bằng
hormone có thể được chỉ định để kích thích sự dậy thì. Phép chữa bằng thay thế
hormone có thể được giới thiệu cho những phụ nữ mãn kinh để giúp làm giảm các mức
hormone giới tính thấp, như loãng xương và bệnh dộng mạch vành.
Phòng ngừa các bệnh lây qua đường tình dục
Gồm việc giới hạn số bạn tình, sử dụng bao cao
su và tránh những thực hành tình dục dễ làm tổn thương các màng nhầy âm đạo và
hậu môn. Những người có các triệu chứng bệnh, hoặc đang được điều trị bệnh phải
kiêng việc quan hệ tình dục và yêu cầu các bạn tình thực hiện các xét nghiệm
Bao cao su: Nếu được sử dụng đúng cách, bao cao su
laiex là một biện phép bảo vệ hữu hiệu chống lại các vi sinh vật.
Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015
Triệu chứng giảm tuyến năng sinh dục nữ giới
Các hormone giới tính nữ kiểm soát sự phát triển giới
tính và chu kỳ kinh nguyệt. Sự hoạt động kém của các buồng trứng, gọi là giảm
năng tuyến sinh dục dẫn đến mức thấp của các hormone này trong cơ thể. Một sự
suy giảm các mức hormone xảy ra tự nhiên trong kỳ mãn kinh, nhưng ở những lần
khác, nó có thể chỉ ra một bệnh chính. Chứng giảm năng tuyến sinh dục có thể
gây các triệu chứng đáng lo ngại nhưng thường có thể được điều trị.
Các loại:
Có hai loại giảm năng tuyến sinh dục: nguyên phát và
thứ phát. Cả hai loại đều có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào. Giảm năng tuyến sinh
dục nguyên phát thường do một bệnh hay một sự suy yếu của các buồng trứng, có
thể là kết quả của một rối loạn nhiễm sắc thể, chẳng hạn như hội chứng Tumer.
Nó cũng có thể do sự cắt bỏ buồng trứng bằng phẫu thuật. Trong hầu hết trường hợp,
giảm năng tuyến sinh dục nguyên phát xảy ra như một kết quả tự nhiên của thời kỳ
mãn kinh.
Giảm năng tuyến sinh dục là do rối loạn của tuyến
yên hay vùng dưới đồi (một phần của não) dẫn đến sự sản xuất kém các hormone mà
kích thích các buồng trứng hoạt động. Rối loạn này có thể là do một bệnh tuyến
yên như một u tuyến yên hay, trong trường hợp hiếm, do sự tổn thương tới tuyến
yên hay vùng dưới đồi như một kết quả của một tổn thương dầu hay một nhiễm
trùng như viêm não do virus. Đôi khi, nó là do sự tập thể dục quá sức hay giảm
cân đột ngột.
Việc cần làm khi bị mãn kinh
Bác sĩ sẽ khám âm đạo và cổ tử cung để tìm các bất
thường. Nếu các vùng bất thường được thấy trong âm đạo, một mẫu nhỏ có thể được
lấy để kiểm tra qua kính hiển vi. Bác sĩ cũng có thể làm một xét nghiệm kính phết
cổ tử cung để tìm các tế bào bất thường trong cổ tử cung. Trong một số trường
hợp, một mẩu mô màng trong tử cung có thể được lấy để phân tích.
Quét siêu âm có thể được làm để xem hình ảnh tử cung
và để đo độ dày của lớp lọt. Bên trọng tử cung của bạn cũng có thể được kiểm
tra.
Sự điều trị xuất huyết sau mãn kinh thay đổi tùy
theo nguyên nhân chính. Các kem oestrogen dùng bôi âm đạo có thể được chỉ định
để làm giảm viêm âm đạo teo. Phẫu thuật có thể cần dể lấy đi các u ung thư. Phẫu
thuật cũng có thể được tiến hành dể điều trị các bệnh cổ tử cung và tử cung,
như thịt dư cổ tử cung hay một màng trong tử cung bị dày. Xuất huyết sau mãn
kinh sẽ ngừng một khi bệnh chính đã được điều trị.
Nguyên nhân mãn kinh
Xuất huyết sau mãn kinh có thể là một triệu chứng của
nhiều bệnh thuộc âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, và tử cung. Nguyên nhân thường gặp
nhất và ít nghiêm trọng nhất của sự xuất huyết như thế là chứng viêm âm đạo
teo, trong đó, âm đạo trở nên viêm do các mức oestrogen thấp sau mãn kinh.
Xuất huyết sau mãn kinh có thể là do một bệnh của cổ
tử cung, chẳng hạn như sướt cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung. Trong các bệnh
này, sự xuất huyết từ cổ tử cung có khả năng xảy ra nhiều hơn sau giao hợp. Xuất
huyết sau mãn kinh cũng có thể là do một màng trong tử cung bị dày lên hoặc do
các u ung thư hay không ung thư trong tử cung. Ung thư âm hộ và âm đạo cũng có
thể dẫn đến xuất huyết sau mãn kinh, mặc dù cả hai bệnh này rất hiếm.
Thứ Hai, 26 tháng 1, 2015
Xuất huyết sau khi mãn kinh
Chảy máu kinh nguyệt sẽ ngừng ở thời kỳ mãn kinh. Chảy
máu sau mãn kinh thường chỉ do một số dạng phép chữa thay thế hormone gây ra
một tháng một lẫn. Xuất huyết sau mãn kinh khác có thể là một dấu hiệu của một
bệnh nghiêm trọng, như ung thư dường sinh sản, và cần được kiểm tra bởi bác sĩ.
Xuất huyết sau mãn kinh có thể lên xuống từ xuất huyết đốm nhệ tới chảy máu nặng
hơn và thường không đau.
Việc cần làm khi bị mãn kinh
Việc điều trị bằng thay thế hormone, thường đựợc gọi
là HRT, có thể giúp làm giảm nhiều triệu chứng xảy ra ở thời kỳ mãn kinh bằng
cách gia táng mức oestrogen trong cơ thể và giảm sự sản xuất FSH. Bác sĩ có thể
chỉ định HRT dưới dạng viên, chất cấy dưới da, hay thuốc dán lên da. Để đạt đượclợi
ích tối đa, HRT thường được cho trong ít nhất 5 năm. Tuy nhiên, dùng kéo dài có
thể mang lại một số nguy cơ, do đó bạn nên bàn bạc với bác sĩ.
Các cách chữa thay thế thì có sẵn dưới dạng các kem
oestrogen, giúp kiểm soát sự khô âm đạo và khó chịu trong âm đạo, và thuốc
clonidine, mà có thể được dùng để làm giảm chứng nóng bừng. Một số phụ nữ cảm
thây các phép chữa bổ sung, chẳng hạn như liệu pháp vi lượng đồng căn có tác dụng
tốt.
Quá trình mãn kinh thường kéo dài từ 1 đến 5 năm,
sau đó các triệu chứng thường biến mất.
Nguyên nhân mãn kinh
Khi phụ nữ bị lão hóa, các buồng trứng của họ dần trở
nên kém hoạt động hơn và sản xuất lượng hormone giới thủi oestrogen nhỏ hơn.
Mãn kinh xảy ra như một kết quả của sự giảm các mức oestrogen này. Khi các mức
oestrogen trong cơ thể giảm, tuyến yên bắt đầu tiết hormone kích thích nang
(FSH) nhiều hơn để cố kích thích các buồng trứng. Hầu hết các triệu chứng
có liên quan đến mãn kinh là kết quả của các mức oestrọgen giảm hay các mức FSH
táng. Các triệu chứng này có khuynh hướng nặng hơn khi mãn kinh xảy ra sớm hay
đột ngột. Một sự mãn kinh thình lình có thể là do sự cắt bỏ bằng phẫu thuật các
buồng trứng hay các phép điều trị chông ung thư mà có thể gây tổn thương buồng
trứng như hóa trị và xạ trị.
Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015
Các vấn đề về mãn kinh
Mãn kinh, thời điểm mà một phụ nữ ngừng thấy kinh,
là một kết quả bình thường của quá trình lão hóa. Hơn 8 trong 10 phụ nữ cảm thấy
khỏe suốt thời kỳ mãn kinh hoặc chĩ trải qua các triệu chứng nhẹ, nhưng một
số phụ nữ gặp những rắc rối nghiêm trọng ảnh hưởng đến sinh hoạt của họ.
Kỳ mãn kinh thường xảy ra từ tuổi 45 đến 55, mặc dò
một số phụ nữ phát triển các triệu chứng trước hoặc sau thời điểm này.
Hút thuốc có thể làm giảm tuổi mãn kinh. Một phụ nữ nói chung được coi là mãn
kinh nếu không có một kỳ hành kinh trong ít nhất 6 tháng và không có nguyên
nhân chính khác. Khuynh hướng có một kỳ mãn kinh sớm hay muộn có thể di truyền.
Chứng chảy máu âm đạo bất thường
Bình thường, sự chảy máu âm đạo xuất hiện trong
kỳ hành kinh, chảy máu mà xảỳ ra ngoài lúc kinh nguyệt là bất thường, ở phụ nữ
dưới tuổi 35, chảy máu âm đạo bất thường là kết quả của việc bắt đầu uống thuốc
ngừa thai. Chảy máu bất thường do một bệnh của các cơ quan sinh sản thường gặp ở
các phụ nữ trên tuổi này nhiều hơn.
Việc cần làm khi bị chứng tiền king nguyệt
Chẩn đoán PMS thường dễ dàng dựa trên thời điểm của
các triệu chứng. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn lưu một hồ sơ các triệu chứng để khẳng
định rằng chúng có liên quan đến kinh nguyệt.
Có nhiều biện pháp tự chữa, bạn có thể dùng để ngăn
ngừa PMS . Nếu các biện pháp này không có tác dụng hay các triệu chứng của bạn
là nghiêm trọng, bạn nên tìm tư vấn y tế. Một số thuốc giảm đau, có thể
làm giảm nhức đầu và cứng cơ. Nếu bạn trải qua các xáo trộn tâm trạng, bác sĩ
có thể chỉ định các thucíc chông trầm cảm, những thuốc này có thể hiệu quả hơn
nếu được dùng xuyên suốt chu kỳ kinh nguyệt.
Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015
Việc cần làm chứng chảy máu âm đạo bất thường
Bác sĩ của bạn có thể làm một chẩn đoán dựa trên thời
điểm xuất huyết và sự khám cơ thể. Bạn cũng có thể cần các xét nghiệm, chẳng hạn
như xét nghiệm kính phết cổ tử cung dể tìm các bệnh cổ tử cung, quét siêu âm để
xem xét tử cung, hay nội soi để xem bên trong tử cung.
Sự điếu trị xuất huyết âm đạo bất thường phụ thụộc
vào nguyên nhân. Xuất huyết đốm do uống thuốc ngừa thai có thể được ngăn ngừa bằng
cách đổi liều hoặc loại thuốc. Sự điều trị bằng hormone có thể được dùng để phục
hồi độ mềm dẻo của các thành âm đạo dễ vỡ ở phụ nữ lớn tuổi. Phẫu thuật có thể
cần để điều trị các bệnh chính nghiêm trọng hơn. Trong hầu hết các trường hợp,
xuất huyết âm đạo bất thường biến mất một khi nguyên nhân đã được điều trị
thành công.
Nguyên nhân chảy máu âm đạo bất thường
Chảy máu nhẹ giữa các kỳ hành kinh, còn gọi là xuất
huyết đốm, thường gặp ở vài chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên sau khi bắt đầu uống
thuốc ngừa thai hay đổi sang một loại thuốc viên khác. Xuất huyết đốm thường do
sự điều chỉnh của cơ thể trước những thay đổi các mức hormone, nhưng loại chảy
máu này cũng liên quan đến việc dùng một dụng cụ ngừa thai trong tử cung (IVD).
Xuất huyết bất thường, đặc biệt là trong vòng một
vài giờ giao hợp có thể chỉ ra một bệnh của cổ tử cung, chẳng hạn như sướt cổ tử
cung hay ung thư cổ tử cung, ơ các phụ nữ lớn tuổi hơn, tình dục có thể làm tổn
thương các thành âm đạo, mà đã trở nên mỏng hơn và dễ vỡ hơn sau kỳ mãn kinh,
gây chảy máu.
Xuất huyết âm đạo bất thường mà không liên quan đến
giao hợp hay thuốc ngừa thai có thể là do một bệnh như lạc màng trong tử cung
hay thịt dư tử cung. Sự mất mát từ tử cung cũng có thể xảy ra ở đầu thai kỳ và
có thể là dấu hiệu của một sự sẩy thai. Các bệnh khác nhau của các cơ quan sinh
sản nữ có thể gây xuất huyết sau mãn kinh, chẳng hạn như ung thư tử cung.
Nếu bạn lưu ý thấy sự chảy máu bất thường, bạn nên
gặp bác sĩ ngay lập tức để được làm rõ nguyên nhân.
Triệu chứng đau bụng trong thời kỳ kinh nguyệt
Các triệu chứng của chứng đau kinh bắt đầu ngay trước
hoặc ngay lúc bắt đầu thấy kinh và trầm trọng nhất khi sự xuất huyết là nặng nhất.
Đau có thể được biểu hiện dưới dạng một trong hai hoặc cả hai triệu chứng sau:
❖ Đau thắt vùng bụng dưới xuất hiện như những
làn sóng lan tới vùng lưng dưới và xuống chân.
❖ Đau như xé vùng chậu hông
Chứng đau này có thể kèm theo bất kỳ triệu chứng nào
của hội chứng tiền kinh nguyệt, như nhức đầu chẳng hạn.
Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015
Việc cần làm khi bị đau kinh
Dùng một số thuốc giảm đau có bán sẵn, có thể giúp làm giảm khó chịu. Việc thư giãn trong một bồn tắm nóng
và chườm một nguồn nóng, chẳng hạn một chai nước nống, lên bụng cũng có thể làm
giảm đau. Tuy nhiên, hãy hỏi ý kiến bác sĩ nếu bạn bị đau kinh lần đầu hay nếu
đau trở nên nghiêm trọng
Bác sĩ có thể khám bạn, đặc biệt, nếu bạn bị đau
kinh thứ phát. Các xét nghiệm khác nhau có thể được tiến hành, bao gồm dùng gạc
thấm dịch cổ tử cung để tàm sự nhiễm trùng, siêu âm vùng bụng dưới hoặc kiểm
tra tử cung với một dụng cụ gọi là ống soi tử cung.
Sự điều trị phụ thuộc vào loại đau kinh. Nếu bạn bị
đau kinh nguyên phát, bác sĩ có thể chỉ định một thuốc kháng viêm nonsteroid
hay một thuộc chống co thắt đẹ làm giảm Cơn đau thắt. Trong một số trường hợp,
bác sĩ có thể chỉ định thuổc viên ngừa thai, vì nó làm giảm đau kinh bằng cách
ngăn sự rụng trứng và cũng có thể làm giảm sự mất máu kinh nguyệt. Một khi sự rụng
trứng đã bị chặn đứng, đau kinh nguyên phát sẽ đỡ, nhưng đau có thể tái phát bất
cứ lúc nào nếu bạn ngưng điều trị. Đau kinh thứ phát thường biến mất một khi bệnh
chính được điều trị.
Chứng đau kinh thường gặp ở nữ giới
Có đến ba phần tư phụ nữ đã bị đau khi hành kinh,
còn gọi là chứng đau kinh, vào một lúc nào đó. Trong khoảng một phần năm của
số phụ nữ này, đau diễn ra trầm trọng và có thể cắt đứt một cách nghiêm trọng
các hoạt động bình thường. Đau thường diễn ra trong 24 giờ trước khi có kinh hoặc
sau 1 hay 2 ngày đẩu của kỳ hành kinh.
Các loại
Có hai loại đau kinh: đau kinh nguyên phát, không có
nguyên nhân rõ ràng; và đau kinh thứ phát, là kết quả của một bệnh của các cơ
quan sinh sản.
Đau kỉnh nguyên phát Dạng đau kinh này thường xuất
hiện ở thời kỳ đầu tuổi dậy thì và có liên quan đến các hormone ảnh hưởng đến sự
rụng trứng hàng tháng từ các buồng trứng. Các kỳ hành kinh thường trở nên đau
khoảng 1-2 năm sau khi kinh nguyệt bắt đầu, cũng là lúc bắt đầu sự rụng trứng.
Một sự gia táng các chất dạng hormone gọi là các prostaglandin trong cơ thể xảy
ra một vài ngày sau sự rụng trứng và làm cho các cơ của tử cung co lại. Sự co
này làm cản trở sự cung cấp máu tới tử cung và gây chứng đau kinh. Loại đau
kinh nguyệt này có khuynh hướng bắt đầu sau tuổi 25, thường biến mất vào tuổi
30, và nó thường trở nên đỡ nặng hơn sau khi sinh, có khả năng là do sự cung cấp
máu tới tử cung gia tăng.
Các phụ nữ có người thân bị đau kinh nguyên phát có
khả năng mắc bệnh này nhiều hơn, cho thấy rằng các nhân tô' di truyền có liên
quan.
Đau kinh thứ phát: Các kỳ hành kinh đau ở các phụ nữ
chưa trải qua đau kinh trước dây hay chỉ bị đau nhẹ trước đây được gọi là dau
kinh thứ phát. Loại đau kinh này thường ảnh hưởng đến các phụ nữ từ 20 đến 40. Nguyên nhân thường là
do lạc màng trong tử cung, trong đó, các mảnh vụn mô mà thường lót tử cung quay
ra gắn vào các cơ quan khác trong xương chậu, hay do mọt bệnh của tử cung như u
xơ tử cung. Một sự nhiễm trùng dai dẳng các cơ quan sinh sản (xem Các bệnh viêm
vùng chậu) và sự sử dụng một dụng cự ngừa thai trong tử cung (IVD) cũng có thễ
gây ra các kỳ hành kinh đau.
Chẩn đoán và điều trị chứng rong kinh
Bác sĩ sẽ khám và cho bạn làm một số xét nghiệm máu
để do các mức hormone của bạn và để tìm cấc dấu hiệu thiếu máu. Các kiểm tra
khác, như siêu âm để tìm u xơ hay thịt dư trong tử cung, có thể cần. Bạn cũng
có thể được nội soi tử cung, trong dó, một dụng cụ soi được đưa qua cổ tử
cung kiểm tra tử cung.
Sự điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân, tuổi tác của
bạn, và mức độ nghiêm trọng của xuất huyết. Bất kỳ bệnh chính nào cũng sẽ được
điều trị. Nếu không tìm thấy nguyên nhân, cầc. thuốc có thể được cho lúc đầu để
iàm giảm mất máu.
Nếu sự điều trị ban đầu không kết quả hoặc nếu rong
kinh là nghiêm trọng, bạn có thể cần phẫu thuật bằng laser để cắt bỏ màng trong
tử cung. Các phẫu thuật này là vĩnh viễn và chĩ được đề nghị tới người không
muôn có con sau này. Sự cắt màng trong tử cung bằng laser là một phẫu thuật nhỏ,
nhưng nó có một nguy cơ nhỏ là bệnh sẽ tái phát nếu còn sót bất kỳ mô màng
trong tử cung nào.
Một thủ thuật cắt tử cung là một phẫu thuật lớn
nhưng bảo đảm rằng chứng rong kinh sẽ không tái phát.
Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015
Nguyên nhân chứng rong kinh
Chảy máu kinh nguyệt nặng hoặc kéo dài có thể lầ triệu
chứng của các bệnh tử cung khác nhau, như u xơ tử cung, thịt dư tử cung, hay
ung thư tử cung. Rong kinh cũng là một tẩc dụng phụ được biết rõ của việc dùng
các dụng cụ ngừa thai bên trong tử cung. Một kỳ hành kinh nặng đơn lẻ mà trễ có
thể là một sự sẩy thai. Rong kinh cũng có thể do một rối loạn hormone, như chứng
giảm năng tuyến giáp, bệnh xảy ra phổ biến hơn ở phụ nữ béo phì.
Đôi khi, nguyên nhân không được rõ. Nếu các kỳ hành
kinh của bạn luôn luôn nặng, có thể không cần phải quan tâm. Tuy nhiên, bạn nên
hỏi ý kiến bác sĩ nếu vấn đề ảnh hưởng đến sinh hoạt của bạn.
Chứng rong kinh
Một số phụ nữ có các kỳ hành kinh nặng hơn người
khác. Tuy nhiên, nếu chảy máu kinh nguyệt kéo dài trong hơn 7 ngày, không thể
khống chế bằng băng vệ sinh hay nút gạc, hay gồm những cục máu đông lại, nó được
coi là chứng rong kinh. Trong một số trường hợp, bệnh này có thể liên quan đến
một cơn đau như xé ở bụng dưới. Kinh nguyệt cũng có the thất thường. Chảy máu
kinh nguyệt nghiêm trọng cỏ thể dẫn đến chứng thiếu máu do thiếu sất, gây nhức
đầu nhẹ và mệt mỏi. Khoảng 1 trong 20 phụ nữ bị chứng rong kinh thường xuyên. Bệnh
thường gặp ở phụ nữ sắp mãn kinh nhiều hơn.
Nguyên nhân chứng vô kinh
Vô kinh thường do một sự xáo trộn trong hormone giới
tính nữ mà có thể là kêt quả của các nhân tố như căng thẳng hay trầm cảm.
Thể dục quá sức và sút cân quá mức hay dột ngột cũng có thể dân đên những xáo
trộn như thế và là những nguyên nhân thường gặp của chứng vô kinh ở các vận động
viên điền kinh, thể dục. Những thay đổi hormone có thể dẫn đến vô kinh nguyên
phát hay thứ phát, tùy thuộc vào việc chúng xảy ra khi nào.
Chứng vô kinh nguyên phát là một nét đặc trưng của dậy
thì muộn và có thể do một rối loạn nhiễm sắc thể. Việc kinh nguyệt không thể bắt
đầu ở tuổi dậy thì cũng có thể do một tình trạng, trong đó, màng trinh không có
khe hồ, và máu kinh nguyệt không thể rời cơ thể. Trong các trường hợp hiếm, tử
cung vắng mặt từ lúc mới sinh, và vì thế, không có kinh nguyệt nào có thể xảy
ra.
Vô kinh thứ phát có thể do một rối loạn tuyến yên,
như u tuyến yên chẳng hạn. Một số phụ nữ bị mãn kinh sớm, trong đá các kỳ
hành kinh chấm dứt trước tuổi 35. Các nguyên nhân có thể khác bao gồm các rốỉ
loạn buồng trứng như hội chứng đau nang buồng trứng và những sự điều trị như xạ
trị và hóa trị, mà có thể gây tổn thương các buồng trứng.
Viêm quy đầu ở nam giới
Trong chứng viêm quy dầu, đầu dương vật (quy đầu) và
bao qui đầu trở nên ngứa, lở và viêm. Ngoài ra, có thể có một sự tiết dịch và một
loại ban đỏ có thể phát triển.
Bệnh có thể do một sự nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, như bệnh
nấm candi da, hay dị ứng. Nó cũng có thể là do một bệnh nhiễm trùng lây qua đường
tình dục (STI), như bệnh nhiễm dộng vật đơn bào trichomonias. Một bao qui đầu
chật hơn bình thường có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng vì nó ngăn việc làm sạch
qui đầu.
Những người đàn ông bị tiểu đường dễ bị nhiễm bệnh
hơn bởi vì nước tiểu của họ chứa lượng glucose cao, có thể kích thích sự phát
triển của các vi khuẩn. Điều này dẫn đến nhiễm trùng và viêm ỏ lỗ niệu đạo. Sự
dùng quá mức các kháng sinh có thể làm táng nguy cơ nhiễm nấm bằng việc làm giảm
tạm thời sự phòng vệ tự nhiên của cơ thể. Trẻ em đặc biệt dễ bị viêm quy đầu.
Bệnh cũng có thể xảy ra do sự nhạy cảm của dương vật
đôi với một số hóa chất, như trong một số bao cao su, các kem chông
thụ thai, các thuộc tẩy, bột giặt.
Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015
Việc cần làm khi bị vô kinh
Sự điều trị là không cần thiết nếu vô kinh chỉ kéo
dài trong vài tháng sau khi ngừng uống thuổc ngừa thai, hoặc xảỵ ra trong lúc
mang thai hay cho con bú. Kinh nguyệt không có lại trong vòng vài tháng sau khi
sinh nếu bạn không cho con bu hoặc trong vòng một tháng sau khi ngừng cho bú.
Sau khimãn kinh, sự mất kinh sẽ là vĩnh viễn
Chứng vô kinh mà xảy ra ở bất kỳ thời gian nào khác
cần được xem xét. Bác sĩ sẽ khám và có thể cho bạn thử thai.Bạn cũng có thể cần
được thử máu để đo các mức hormonẹ, siêu âm các buồng trứng và chụp tử cung, và
chụp CT tuyến yên.
Sự điều trị bệnh chính kích thích kinh nguyệt trong
hầu hết trường hợp. Nếu nguyên nhân không thể được điều trị, chữa bằng hormone
có thể được dùng để bắt đầu kinh nguyệt. Nếu các kỳ hành kinh vắng mặt do căng
thẳng, sút cân hay thể dục quá sức, chúng sẽ xuất hiện khi vấn đề được khắc phục.
Chứng vô kinh- không có kinh nguyệt
Có hai loại vô kinh: nguyên phát và thứ phát. Nếu một
bé gái không bắt đầu kinh nguyệt vào tuổi 16, cô ta được cho là mắc chứng vô
kinh nguyên phát. Một khi kinh nguyệt đã ổn định trong tuổi dậy thì, việc ngừng
hành kinh trong lúc mang thai, và vĩnh viễn ở thời kỳ mãn kinh là điều bình thường.
Nếu kinh nguyệt ngừng ở bết kỳ thời gian nào khác trong ít nhất 3 tháng, bệnh
được gọi là vô kinh thứ phát.
Việc cần làm khi kinh nguyệt không đều
Kinh nguyệt không đều do những thay đổi hormone bình
thường sau tuổi dậy thì hay sau khi sinh thường trở nên đều hơn theo thời gian.
Ở những phụ nữ gần đến kỳ mãn kinh, kinh nguyệt không đều cuối cùng sẽ ngừng hẳn.
Trong tất cả các trường hợp này, sự điều trị thường không cần thiết. Tuy nhiên,
nếu vấn đề kéo dài và cản trở sinh hoạt bình thường, các thuốc có thể được cho
để điều tiết kinh nguyệt. Các thuốc này gồm các thuốc uống ngừa thai cho những
người trẻ và phép chữa thay thế hormone cho những phụ nữ gần mãn kinh. Kinh
nguyệt không đều do sụt cân quá mức hay thể dục quá sức, căng thẳng hay trầm cảm
sẽ trở lại đều hơn sau khi các vấn đề này được khắc phục.
Nếu không có nguyên nhân rõ ràng cho kinh nguyệt
không đều cửa bạn và không có kiểu xuất huyết kinh nguyệt rõ rệt, bác sĩ có thể
làm các xét nghiệm để tìm một căn bệnh chính. Các xét nghiệm này có thể gồm một
xét nghiệm thai, các xét nghiệm máu để đo các mức hormone, và siêu âm chậu hông để xem xét các buồng trứng và tử cung. Nếu một bệnh chứng được phát hiện, sự điều
trị bệnh sẽ điều tiết các kỳ hành kinh trong hầu hết trường hợp.
Việc cần làm khi bị viêm quy đầu
Nếu đầu dương vật hay bao quy đầu của bạn bị viêm, bạn
nên hỏi ý kiến bác sĩ. Bác sĩ sẽ khám cho bạn và có thể thấm một miếng gạc để
tìm dâu hiệu nhiễm trùng. Bác sĩ cũng sẽ xét nghiệm nước tiểu của bạn để tìm
glucose.
Điều trị viêm quy đầu phụ thuộc vào nguyên nhân. Ví
dụ, nếu bạn bị nhiễm vi khuẩn, các kháng sinh có thể được chỉ định, và nếu sự
nhiễm khuẩn là do một bao quy đầu chật, thủ thuật cắt bao qui đầu có thể được
tiến hành để ngăn viêm quy đầu tái phát. Bệnh do nhiễm trùng và được điều trị nếu cần
để ngăn ngừa bệnh tái phát. Nếu nguyên nhân dường như là sự mần cảm với một hóa
chất, chất kích thích nên được nhận dạng, nếu có thể, để bạn có thể tránh nó.
Vùng bị viêm nên được giữ sạch, khô, và tránh xa các
chất kích thích. Hầu hết trường hợp viêm quy đầu dứt nhanh một khi nguyên nhân
đã được phất hiện và điều trị.
Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015
Nguyên nhân chu kỳ không đều
Sự thay đổi trong độ dài của chu kỳ kinh nguyệt thường
là do sự mất cân bằng tạm thời của hormone. Sự thay đổi thết thường trong mức
hormone ở tuổi dậy thì có nghĩa là các kỳ hành kinh thường không đều khi chúng
bắt đầu và những thay đổi lớn trong kiểu xuất huyết bình thường của một phụ nữ
thì thường gặp ở vài tháng đầu sau khi sinh và khi sắp mãn kinh.
Những sự mất cân bằng hormone ở các lần khác có thể
là do các nhân tố như căng thẳng, trầm cảm, và bệnh nghiêm trọng hay kéo
dài. Các bài tập quá sức và thiếu cân nhiều cũng là những nguyên nhân thường gặp
của sự xáo trộn hormone mà có thể gây kinh nguyệt không đều.
Đôi khi, kinh nguyệt không đều có thể là một triệu
chứng của một bệnh buồng trứng hay tử cung. Ví dụ, hội chứng đa u nang buồng trứng,
trong đó, có một sự mất cân bằng các hormone giới tính, hay lạc màng trong tử
cung, trong đó, các mảnh mô bình thường lót tử cung bị lạc chỗ và gắn vào các
cơ quan khác trong chậu hông, có thể chặn đứng kỳ hành kinh.
Trong một số trường hợp, một thai kỳ rõ rệt gây sự
xuất huyết không đều mà có thể dễ dàng nhầm lẫn với một kỳ hành kinh. Một kỳ
hành kinh nặng, trễ, đơn lẻ có thể là do một sự sẩy thai. Nếu bạn có một kỳ
kinh trễ kèm theo đau bụng dữ dội, bạn cần tìm sự trợ giúp y tế khẩn cấp bởi vì
nó có thể là do một thai lạc chỗ. Trong một số trường hợp, nguyên nhân của kinh
nguyệt không đều không được rõ.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Chu kỳ kinh nguyệt không đều
Các chu kỳ kinh nguyệt bắt đầu ở tuổi dậy thì và tiếp
tục cho đến khi mặn kinh. Chu kỳ kinh nguyệt trung bình kéo dài 28 ngày, nhưng
các chu kỳ hành kinh có thể xảy ra nhặt hơn, khoảng 24 ngày một lần hay thưa
hơn, khoảng 35 ngày một lần. Sau tuổi dậy thì, hầu hết phụ nữ phát triển một
chu kỳ kinh nguyệt đều đặn với một độ dài thời gian tương đội ổn định giữa các
kỳ hành kinh. Tuy nhiên, ở một số phụ nữ, các kỳ hành kinh diễn ra không
đều. Sự chảy máu kinh nguyệt thường kéo dài từ 2 đến 7 ngày, với dộ dài trung
bình của sự chảy máu là 5 ngày.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Chu kỳ kinh nguyệt và mãn kinh
Mỗi tháng, từ lúc dậy thì cho đến lúc mãn kinh, cơ
thể một phụ nữ trải qua chu kỳ kinh nguyệt để chuẩn bị cho sự thụ thai và mang
thai. Một trứng trưởng thành được phóng thích, và lớp lót tử cung (màng tử
cung) trở nên dầy hơn, sẵn sàng cho một trứng được thụ tinh cấy vào. Nếu trứng
không được thụ tinh, nó đi ra ngoài cơ thể trong lúc kinh nguyệt. Chu kỳ kinh
nguyệt kéo dài trung bình 28 ngày nhưng có thể không cùng độ dài mỗi tháng và
không giống nhau giữa các phụ nữ. Chu kỳ dược điều tiết bởi một tác động qua lại
phức tạp giữa bốn hormone giới tính. Hormone kích thích nang (FSH) và hormone sản
xuất hoàng thể (LH) được sản xuất trong tuyến yên, còn oestrogen và
progesterone được tiết bởi các buồng trứng.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015
Chức năng sinh sản ở phụ nữ
Các bé gái sơ sinh có một nguồn khoảng 150.000 trứng
chưa trưởng thành, có mặt trong buồng trứng trước khi sinh. Các trứng được trữ
trong buồng trứng và chỉ bát đầu trưởng thành (chín) khi một sự gia tăng mức
hormone giới tính nữ ở tuổi đậy thì gây ra các chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng.
Một tháng một lần, một trứng chín sau 14 ngày trong
nang của nó và được phóng thích khỏi buồng trứng vào ống dẫn trứng trong một
quá trình gọi là sự rụng trứng. Trứng sống được 24 giờ sau sự rụng trứng và chỉ
có thể được thụ tinh bởi tinh trùng vào lúc này. Mất khoảng 5-6 ngày cho trứng,
dụ được thụ tinh hay không, đi dọc theo ốhg tđi tử cung. Nếu được thụ tinh, trứng cuối cùng cấy vào lớp lót tử cung, nơi trở nên dầy hơn sau sự rụng trứng, sẵn
sàng cho một trứng cây vào. Trứng, sau đó, phát triển thành một phôi. Nếu không
được thụ tinh, trứng đi ra khỏi âm dạo, cùng với lớp lót tử cung. Sự mằt máu
này gọi là kinh nguyệt.
Chu kỳ trứng chín, rụng, và sự chảy máu kinh nguyệt
xảy ra cách nhau trung bình khoảng 28 ngày trong thời kỳ sinh sản của một phụ nữ. Ở thời kỳ mãn kinh, thường xảy ra từ tuổi 45 đến 55, các trứng ngừng chín và
không được phóng thích bởi các buồng trứng nữa. Kinh nguyệt ngừng, và giai đoạn
sinh sản của một phụ nữ chấm dứt.
Các buồng trứng sản xuất các hormone oestrogen và
progest- erone, nhưng sự tiết các chất này được kiểm soát bởi hor- mone kích
thích nang và hormone sản xuất hoàng thể, cả hai được sản xuất trong tuyến yên,
một cấu trúc rất nhỏ ngay bên dưới não. Các hormone giới tính kiểm soát sự phát
triển giới tính ở tuổi dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt và khả năng sinh sản.
Oestrogen cũng kích thích sự phân phối chất béo mà dẫn đến hình dáng tròn trịa
của một phụ nữ. Những thay dổi trong các mức hormone trong chu kỳ kinh nguyệt và ở thời kỳ
mãn kinh có thể ảnh hưởng đến tâm trạng và hành vi.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Cấu tạo bộ phận sinh dục nữ
Từ tuổi dậy thì, hai buồng trứng phóng xuất ra các tế
bào sinh dục nữ là các trứng. Buồng trứng cũng sản xuất ra các hocmôn sinh dục
gọi là oestrogen ảnh hưởng đến sự xuất hiện các nét đặc trưng sinh dục của nữ
giới như về hình thể học, sự phát triển của vu và chu kỳ kinh nguyệt. Mỗi
tháng, một trứng được giải phóng ra và di chuyển dọc theo một trong hai vòi
Fallop về phía tử cung. Tử cung là một cấu trúc rỗng ở giữa vùng chậu; nếu trứng
không được thụ tinh, kinh nguyệt sẽ được khởi phát.
Vị trí
Tử cung: Các Cơ quan sinh sản nữ nằm trong khoang chậu, là một khoảng trống lớn được bao bọc xung quanh bởi các xương chậu. Tử cung nở lớn ra khi mang thai. Khoang chậu ở nữ lớn hơn nhiều và nằm thấp hơn so với nam
Các bộ phận như sau:
- Kết
tràng
- Dây chằng;
- Bàng quang;
- Khớp mu;
- Ám vật: Cũng như dương vật,
cơ quan nậy chứa mô xốp có thể cương lên và những đầu dây thần kinh;
- Môi lớn;
- Môi nhỏ;
- Vòi Fallop: Là vòi Fallop cố định ở phẩn trên của tử cung (mỗi
vòi một bên). Các đầu mút toả ra, gần kề các buổng trứng mà không chạm vào, để
nhận trứng được giải phóng ra;
- Các tua: Những tua dài dạng như ngón tay tạo
thành vành tua của vòi Fallop. Những dao động thật nhẹ của các tua hướng dẫn trứng
được giải phóng ra vào giữa vòi;
- Nang chứa một trứng đang chín;
- Buồng trứng:
Khi mới sinh, hai buồng trứng chứa hàng triệu nang trứng sơ cấp cho đến lúc dậy
thì. Buồng trứng tiết ra các hocmôn kích thích sự chín muồi của các nang để giải phóng trứng (đôi khi hai trứng mỗi tháng);
đó là sự rụng trứng; m. Dây chằng buồng trứng; Mỗi tháng chu kỳ kinh nguyệt khởi
đầu từ màng nhầy tử cung và diễn ra theo các quy luật. Khi có thai, kích thước
của tử cung tăng lên;
- Cổ tử cung: là phần thắt hẹp của tử cung; lỗ mở giữa cổ
tử cung để cho tinh tùng đi vào và kinh nguyệt đi ra. Khi sinh, cổ tử cung giãn
nở ra đáng kể;
- Trực tràng;
- Niệu đạo;
- Âm đạo: Âm đạo cố màng nhẩy để bôi
trơn, và một vách cơ ngoài, âm đạo nở rộng khi quan hệ tình dục và lúc sinh đẻ.
Môi trường axit của âm đạo tạo ra một sự bảo vệ hoá học chống lại các nhiễm
trùng.
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)








































